TÀI LIỆU TẬP HUẤN NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT ĐẢNG - Đảng Bộ Khối Doanh Nghiệp Hà Tĩnh
07:28 EDT Thứ năm, 20/09/2018
THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVIII

Menu Hệ thống

Liên kết website

Đảng Cộng sản
Xây dựng đảng
Công báo Hà Tĩnh
Cổng Thông tin Điện tử Hà Tĩnh
Báo Hà Tĩnh
Nông thôn mới Hà Tĩnh

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 13


Hôm nayHôm nay : 2670

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 58190

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3853358

Trang chủ » Văn bản Đảng ủy » Hướng dẫn

TÀI LIỆU TẬP HUẤN NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT ĐẢNG

Thứ ba - 17/11/2015 01:30
Chuyên đề 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
                                                       
I. Khái niệm về kiểm tra, giám sát của Đảng.
1. Khái niệm kiểm tra của Đảng.
1.1. Khái niệm: là việc tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Pháp luật của Nhà nước.
1.2. Chủ thể kiểm tra: tổ chức đảng (cấp ủy; Ban Thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; chi bộ; đảng ủy bộ phận; UBKT cấp ủy; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; Ban cán sự đảng; Đảng đoàn).
1.3. Đối tượng kiểm tra: cấp ủy, tổ chức đảng (BTV cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; chi bộ; đảng ủy bộ phận; UBKT cấp ủy; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; Ban cán sự đảng; Đảng đoàn) và đảng viên.
1.4. Nội dung kiểm tra: việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
2. Khái niệm giám sát của Đảng:
2.1. Khái niệm: là việc các tổ chức đảng theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị, quy định của Đảng.
2.2. Chủ thể giám sát: là các tổ chức đảng (cấp ủy; Ban Thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; chi bộ; đảng ủy bộ phận; UBKT cấp ủy; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy).
2.3. Đối tượng giám sát: cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới (BTV, Thường trực cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; chi bộ; đảng ủy bộ phận; UBKT cấp ủy; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; Ban cán sự đảng; Đảng đoàn) và đảng viên.
2.4. Nội dung giám sát: Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị; Điều lệ Đảng; các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; quy chế, kết luận của cấp ủy cấp trên và của đảng ủy; chính sách, pháp luật của Nhà nước.
3. So sánh giữa kiểm tra với giám sát.
3.1. Điểm tương đồng.
- Đều là hoạt động của nội bộ Đảng; tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục về công tác xây dựng Đảng.
- Chủ thể kiểm tra, giám sát đều do các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp thực hiện.
- Đối tượng kiểm tra, giám sát đều là các tổ chức đảng và đảng viên.
- Nội dung kiểm tra, giám sát: việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; các chủ trương, Nghị quyết của Đảng; chính sách, Pháp luật của Nhà nước.
- Mục đích chung: nhằm phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng TSVM.
3.2. Điểm phân biệt (khác nhau).
Điểm phân biệt Giám sát Kiểm tra
Về mục đích Giúp đối tượng được giám sát thực hiện đúng quy định, khi cần thiết có thể nhắc nhở ngay, chủ động phòng ngừa vi phạm. Vì vậy, giám sát chỉ thực hiện đối với những việc đang diễn ra. Làm rõ đúng, sai; kiểm tra kể cả đối với những việc đã triển khai và kết thúc.
Về chủ thể và đối tượng. Đảng viên chỉ là đối tượng giám sát; đảng viên chỉ được quyền giám sát khi được tổ chức đảng có thẩm quyền phân công. Đảng viên vừa là chủ thể kiểm tra (tự kiểm tra, vừa là đối tượng kiểm tra.
Về phương pháp
tiến hành.
Giám sát có thể không cần tổ chức thành cuộc (giám sát thường xuyên); không phải thẩm tra, xác minh; không kết luận, xem xét thi hành kỷ luật. Phải tiến hành theo quy trình; thành lập Đoàn (Tổ); coi trọng thẩm tra, xác minh; có đánh giá, nhận xét, kết luận, xem xét thi hành kỷ luật (nếu có vi phạm).
 
II. Ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
1. Kiểm tra, giám sát là một tất yếu khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc, là hoạt động không thể thiếu của tổ chức và con người: Kiểm tra, giám sát giúp tổ chức và con người đưa ra được các quyết định đúng đắn; bảo đảm cho việc thực hiện các quyết định được thắng lợi; hạn chế, phòng ngừa các sai sót, khuyết điểm; góp phần củng cố tổ chức và giáo dục, rèn luyện con người.
2. Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: về phương thức lãnh đạo của Đảng là “phải quyết định mọi việc cho đúng, phải tổ chức thực hiện cho thật tốt, phải kiểm soát thật chặt chẻ”. Về vai trò của kiểm tra, giám sát: “khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức thực hiện, nơi lựa chọn cán bộ và nơi kiểm tra, nếu cả ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy củng vô  ích”, “chín phần mười khuyết điểm là do thiếu kiểm tra”.
Đảng ta khẳng định: lãnh đạo mà không kiểm tra, giám sát thì coi như không lãnh đạo.
3. Trong tình hình hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, nhiệm vụ cách mạng là nặng nề và khó khăn; trong khi đó “các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động diễn biến hòa bình, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa…”; tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tham nhũng, lãng phí…, điều đó càng đòi hỏi phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.
III. Mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương pháp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong giai đoạn hiện nay.
1. Phương hướng, nhiệm vụ.
- Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh: việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giải quyết một số vấn đề bức xúc trong xã hội (suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ nạn xã hội, trật tự kỷ cương); đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Nội dung kiểm tra, giám sát cần tập trung: việc chấp hành Điều lệ Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp; việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nhất là những vụ  án nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội; trong việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ.
- Báo cáo chính trị trình Đại hội Đại biểu đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã chỉ rõ: nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của tỉnh đối với các cấp, các ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên; việc chấp hành nguyên tắc sinh hoạt Đảng, quy chế làm việc, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chú trọng kiểm tra, giám sát trách nhiệm người đứng đầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
- Kết luận số 28-KL/TU, ngày 24/9/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng” đã yêu cầu: Tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện các khâu đột phá về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; kiểm tra, giám sát đối với cán bộ và công tác cán bộ ...
Quy định cấp ủy, ủy ban Kiểm tra đảng ủy các xã, phường, thị trấn hằng năm phải xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểm tra, giám sát các chuyên đề về xây dưng nông thôn mới; đầu tư xây dựng cơ bản; thực hiện chế độ, chính sách an sinh xã hội; quản lý đất đai; quản lý tài chính, ngân sách ở địa phương.
2. Tư tưởng chỉ đạo.
- Chủ động:
+ Khi có chủ trương, Nghị quyết thì đồng thời phải xây dựng chương trình, kế hoạch và thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát.
+ Đa dạng các hình thức kiểm tra, giám sát.
+ Chủ động nắm tình hình, phòng ngừa là chính, tránh để xảy ra sai phạm lớn.
- Chiến đấu: Thể hiện bản lĩnh, thái độ nghiêm túc trong quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát; kiểm tra phải có kết luận đúng, sai; giám sát phải chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm, không né tránh.
- Giáo dục:
+ Kiểm tra, giám sát không phải là “vạch lá tìm sâu”, “bới lông tìm vết”, quan trọng là giúp đối tượng kiểm tra, giám sát nhận thức được đúng, sai, ưu điểm để phát huy, khuyết điểm để khắc phục, sửa chửa.
+ Trong quá trình kiểm tra, giám sát phải phát huy được tinh thần tự giác, ý thức tự phê bình, đề cao tự kiểm tra, giám sát của đối tượng.
+ Thông qua kiểm tra, giám sát cần rút kinh nghiệm được cho cả chủ thể và đối tượng kiểm tra, giám sát.
- Hiệu quả:
+ Đánh giá chính xác, thực chất nội dung được kiểm tra, giám sát.
+ Giúp đối tượng kiểm tra, giám sát thấy được ưu điểm để phát huy, thấy được khuyết điểm để khắc phục, sửa chửa.
+ Thông qua kiểm tra, giám sát phải góp phần xây dựng Đảng TSVM.
+ Từ kết quả kiểm tra, giám sát phải rút được kinh nghiệm chung, tránh những sai sót, khuyết điểm tương tự xảy ra.
3. Phương pháp kiểm tra, giám sát.
- Phải dựa vào tổ chức đảng nơi quản lý tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, giám sát.
- Phải khơi dậy được ý thức tự giác của đối tượng được kiểm tra, giám sát, ý thức tự giác càng cao thì hiệu quả kiểm tra, giám sát càng lớn.
- Phải khơi dậy, tranh thủ tinh thần xây dựng Đảng của quần chúng nhân dân.
- Trong kiểm tra phải tiến hành thẩm tra, xác minh đầy đủ; nếu chưa thẩm tra, xác minh thì chưa thể kết luận.
- Thực hiện tốt việc phối hợp giữa các tổ chức đảng, cơ quan Nhà nước, MTTQ và các đoàn thể nhân dân với Ủy ban Kiểm tra các cấp và các tổ chức đảng có thẩm quyền trong quá trình kiểm tra, giám sát.
4. Các hình thức kiểm tra, giám sát.
4.1. Các hình thức kiểm tra.
- Kiểm tra thường xuyên;
- Kiểm tra định kỳ;
- Kiểm tra đột xuất.
4.2. Các hình thức giám sát.
- Giám sát thường xuyên và giám sát theo chuyên đề;
- Giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp.
IV. Trách nhiệm của cấp ủy các cấp đối với công tác kiểm tra, giám sát.
1. Trách nhiệm của cấp ủy các cấp.
Điều 30, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI quy định rõ: Các cấp ủy đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng.
Như vậy, cấp ủy các cấp có hai trách nhiệm: lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát.
1.1. Cấp ủy lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát.
Nội dung lãnh đạo gồm:
- Triển khai quán triệt, nghiên cứu, học tập các quy định, hướng dẫn của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát.
- Trực tiếp xây dựng và chỉ đạo các tổ chức đảng cấp dưới xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát.
- Ban hành các văn bản theo thẩm quyền để các tổ chức đảng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng và để các đoàn thể chính trị - xã hội, nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát.
- Ban hành và chỉ đạo thực hiện các quy chế, quy định phối hợp trong việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát.
- Nghe báo cáo và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; giải quyết kiến nghị của các tổ chức đảng cấp dưới và định kỳ sơ kết, tổng kết về công tác kiểm tra, giám sát.
- Lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng bộ máy, đội ngũ cán bộ Ủy ban Kiểm tra.
- Đề xuất với cấp có thẩm quyền về những vấn đề cần bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành các văn bản về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
1.2. Cấp ủy thực hiện công tác kiểm tra.
a) Kiểm tra chấp hành.
* Đối tượng kiểm tra.
- Đối với tổ chức đảng: các tổ chức đảng thuộc phạm vi quản lý, trước hết là tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp. Tập trung kiểm tra những tổ chức đảng ở những địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, dễ phát sinh vi phạm.
- Đối với đảng viên: những đảng viên thuộc phạm vi quản lý, trước hết là cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý, cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp trực thuộc.
* Nội dung kiểm tra.
- Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy các cấp, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chú ý kiểm tra phục vụ triển khai các nhiệm vụ chính trị trọng tâm trên địa bàn địa phương, đơn vị.
- Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ.
- Việc lãnh đạo, chỉ đạo cải cách hành chính.
- Việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ.
- Việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
b) Ngoài ra, cấp ủy các cấp còn có nhiệm vụ giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng, kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm và các nội dung kiểm tra chuyên đề khác khi cần thiết.
V. Trách nhiệm của ủy ban Kiểm tra các cấp đối với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
1. Tham mưu thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy.
- Tham mưu giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
- Tham mưu tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát, việc thi hành kỷ luật trong Đảng thuộc thẩm quyền của cấp ủy.
2. Thực hiện kiểm tra, giám sát theo quy định tại Điều 32, Điều lệ Đảng.
2.1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm về tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
2.2. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng;
Kiểm tra đối với tổ chức đảng cấp dưới trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.
2.3. Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, đảng viên là cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
2.4. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật.
2.5. Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng.
2.6. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.
VI. Nâng cao nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
1. Nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát là yếu tố quan trọng, có tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
2. Nội dung nhận thức.
- Nhận thức của các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát để có sự đồng thuận, chia sẽ đối với công tác kiểm tra, giám sát và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát; để không e ngại, né tránh, mặc cảm khi được kiểm tra, giám sát.
- Nhận thức của các cấp ủy để quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; xác định rõ vai trò, trách nhiệm đối với công tác kiểm tra, giám sát.
- Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát.
3. Phương pháp nâng cao nhận thức.
- Đối với các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên: tăng cường tuyên truyền; đưa nội dung về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng vào chương trình cao cấp, trung cấp, sơ cấp LLCT, bồi dưỡng kiến thức cho đảng viên mới...
- Đối với cấp ủy: thực hiện chế độ học tập về công tác kiểm tra, giám sát (Kết luận số 28-KL/TU).
- Đối với cán bộ kiểm tra: tập huấn, nghiên cứu, trải nghiệm thực tiển.
 

Chuyên đề 2

GIÁM SÁT TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN

                                                                           

I. Một số vấn đề chung về nhiệm vụ giám sát trong Đảng.

1. Một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ giám sát trong Đảng.

1.1. Quan niệm về công tác giám sát.

Công tác giám sát nói chung là sự theo dõi, quan sát, xem xét hoạt động của các tổ chức có thẩm quyền mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức và cá nhân chịu sự giám sát thực hiện đúng những điều đã quy định.

1.2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về giám sát của Đảng.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc “theo dõi”, “kiểm soát”, “kiểm tra”, “xem xét”, “nắm tình hình”, “nghe báo cáo”... Người cho rằng, nguy cơ sai lầm về đường lối, cán bộ, đảng viên quan liêu, xa rời quần chúng, đặc quyền, đặc lợi, thoái hóa biến chất... rất dễ xảy ra, cho nên phải tăng cường công tác này. Người chỉ rõ: “Có kiểm soát như thế... Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết”.

- Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X đã khẳng định: “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng, tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng. Trung ương củng ban hành nhiều quy định, hướng dẫn; gần đây nhất là Quy chế giám sát trong Đảng ban hành kèm theo Quyết định số 68-QĐ/TW, ngày 21/3/2012 của Bộ Chính trị.

2. Khái niệm giám sát của Đảng.

2.1. Khái niệm:

Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị, quy định của Đảng.

2.2. Chủ thể và đối tượng giám sát:

- Cấp ủy các cấp giám sát: Ban Thường vụ, Thường trực cấp ủy cùng cấp từ cấp trên cơ sở trở lên; ủy ban Kiểm tra cùng cấp; cấp ủy viên, ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy cùng cấp.

- Ban Thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên giám sát: Thường trực cấp ủy; ủy ban kiểm tra; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy cùng cấp; các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc cấp ủy; cấp ủy viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp quản lý.

- ủy ban kiểm tra các cấp giám sát: Chi bộ, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy cấp dưới từ cấp trên cơ sở trở lên; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy, các ban cán sự  đảng, đảng đoàn thuộc cấp ủy cùng cấp; cấp ủy viên cùng cấp (kể cả bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ), đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp quản lý.

- Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy các cấp giám sát: Các thành viên trong cơ quan mình; cấp ủy cấp dưới, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy cấp dưới từ cấp trên cơ sở trở lên; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy cấp dưới và đảng viên thuộc lĩnh vực phụ trách của từng cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy.

- Chi bộ giám sát: Đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý).

2.3. Nội dung giám sát: Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị; Điều lệ Đảng; các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; quy chế, kết luận của cấp ủy cấp trên và của đảng ủy; chính sách, pháp luật của Nhà nước.

3. Mục đích của việc giám sát.

- Chủ động nắm chắc tình hình tổ chức đảng và đảng viên, trên cơ sở đó để đề ra các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, hiệu quả.

- Phát huy ưu điểm; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục hạn chế, khuyết điểm; cảnh báo, răn đe, phòng ngừa vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên khi mới manh nha.

- Góp phần bổ sung, sửa đổi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bảo đảm phù hợp với thực tiển.

4. Các hình thức giám sát.

- Giám sát thường xuyên và giám sát theo chuyên đề

- Giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp.

II. Việc thực hiện nhiệm vụ giám sát của ủy ban Kiểm tra các cấp.

1. Nội dung giám sát.

1.1. Giám sát đối với tổ chức đảng.

Tập trung giám sát tổ chức đảng cấp dưới trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; nghị quyết, chỉ thị, quyết định, kết luận của cấp ủy cấp trên và của cấp ủy cấp mình; việc thực hiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; thực hiện quy chế làm việc, thực hiện chương trình, kế hoạch công tác toàn khoá, hằng năm của cấp ủy, tổ chức đảng trên các lĩnh vực.

1.2. Giám sát đối với đảng viên.

- Việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Giám sát về tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; việc giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và thực hiện nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú.

- Thực hiện những điều cán bộ, đảng viên và công chức không được làm.

- Thực hiện chế độ kê khai và công khai tài sản của cán bộ, đảng viên theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

- Việc chấp hành quy chế làm việc của cấp ủy (đối với cấp ủy viên cùng cấp).

- Những nội dung khác do cấp ủy cấp mình giao (nếu có).

2. Cách tiến hành giám sát.

Giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được tiến hành theo hai cách: Giám sát thường xuyên và giám sát theo chuyên đề. Giám sát thường xuyên có giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp. Giám sát thường xuyên không lập tổ giám sát; giám sát theo chuyên đề có lập tổ giám sát.

2.1. Giám sát trực tiếp.

a) Thành viên ủy ban kiểm tra dự các cuộc họp của cấp ủy cùng cấp.

- Nghiên cứu báo cáo, đề án, dự án, tờ trình, dự thảo nghị quyết, chỉ thị, kết luận... (gọi chung và báo cáo) để phục vụ việc giám sát.

- Tại kỳ họp cấp ủy cùng cấp: Tham gia thảo luận về báo cáo và các vấn đề liên quan đến nội dung cuộc họp (theo quy chế làm việc); theo dõi việc thảo luận, chất vấn và trả lời chất vấn, kết luận việc chấp hành quy chế làm việc trong hội nghị.

- Phát hiện các vấn đề qua nghiên cứu báo cáo và thảo luận, chất vấn và trả lời chất vấn tại cuộc họp của cấp ủy cùng cấp; báo cáo ủy ban kiểm tra những vấn đề cần thiết.

- Ủy ban kiểm tra xem xét, báo cáo với cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp những vấn đề cần thiết.

b) Thành viên ủy ban kiểm tra phụ trách và cán bộ kiểm tra thường xuyên theo dõi lĩnh vực, địa bàn; dự các cuộc họp, hội nghị của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới.

- Thường xuyên theo dõi, nắm tình hình về tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên bằng cách:

+ Thu thập thông tin, tài liệu để nghiên cứu, xem xét, phát hiện vấn đề, đề nghị tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát cung cấp văn bản, tài liệu phục vụ việc giám sát (khi cần thiết).

+ Định kỳ hoặc đột xuất báo cáo ủy ban bằng văn bản về tình hình tổ chức đảng và đảng viên thuộc địa bàn, lĩnh vực được phân công theo dõi.

+ Nếu phát hiện tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm thì báo cáo ủy ban kiểm tra xem xét, quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.

- Giám sát thông qua dự các cuộc họp, hội nghị của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới.

+ Thành viên ủy ban Kiểm tra được phân công giám sát, căn cứ lịch công tác, giấy mời (kèm văn bản, tài liệu) của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới gửi theo quy định và văn bản, tài liệu có liên quan thu thập được để nghiên cứu, chuẩn bị nội dung cần làm rõ.

+ Tại cuộc họp của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới, thành viên ủy ban Kiểm tra cần thực hiện:

* Theo dõi việc thảo luận, chất vấn và trả lời chất vấn, kết luận; trao đổi để nắm rõ hơn những vấn đề liên quan đến nội dung giám sát và phát biểu ý kiến (nếu thấy cần thiết).

* Phát hiện các vấn đề qua nghiên cứu báo cáo và thảo luận, chất vấn và trả lời chất vấn tại cuộc họp. Trường hợp cần thiết, đề nghị tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát cung cấp thêm tài liệu phục vụ việc giám sát

* Góp ý với tổ chức đảng và đảng viên được giám sát theo thẩm quyền.

* Báo cáo bằng văn bản để ủy ban Kiểm tra xem xét, đánh giá, yêu cầu đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát về những vấn đề cần thiết.

c) Thành viên ủy ban kiểm tra, cán bộ kiểm tra các cấp tham gia các đoàn công tác của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp. Để thực hiện giám sát theo hình thức này, thành viên ủy ban kiểm tra, cán bộ kiểm tra khi được ủy ban kiểm tra cử tham gia đoàn công tác của cấp ủy cùng cấp thực hiện theo trình tự sau:

- Chủ động nắm tình hình liên quan đến nội dung, đối tượng nơi đoàn công tác đến làm việc.

- Nghiên cứu các báo cáo, tài liệu liên quan, nắm tình hình thực tế từ các kênh thông tin khác nhau về tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên nơi đoàn công tác đến làm việc để phát hiện vấn đề phục vụ công việc của đoàn công tác.

- Báo cáo kết quả tham gia đoàn công tác với ủy ban kiểm tra.

d) Các đồng chí thành viên ủy ban kiểm tra các cấp gặp gỡ, trao đổi với đối tượng giám sát.

e) Đôn đốc, theo dõi đối tượng kiểm tra chấp hành kết luận kiểm tra, quyết định kỷ luật; đối tượng giám sát chấp hành thông báo kết quả giám sát chuyên đề.

2.2. Giám sát gián tiếp.

- Xem xét báo cáo hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên.

- Nghiên cứu các văn bản, báo cáo; thông báo kết luận về các cuộc kiểm tra, giám sát; kết quả tự phê bình và phê bình, thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên.

- Nghiên cứu, xem xét ý kiến trao đổi, phản ánh, kiến nghị, báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội; phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng về tổ chức đảng và đảng viên.

- Xem xét đơn tố cáo của đảng viên và quần chúng; khiếu nại của tổ chức, cá nhân; dư luận xã hội có liên quan đến tổ chức đảng, đảng viên.

Qua giám sát, nếu thấy cần thiết, ủy ban Kiểm tra giao thành viên thực hiện nhiệm vụ giám sát như: trực tiếp trao đổi với đối tượng giám sát qua điện thoại, bằng văn bản hoặc có thể gặp trực tiếp để làm rõ vấn đề liên quan đến nội dung giám sát hoặc có thể góp ý kiến với đối tượng giám sát. Trường hợp vượt quá thẩm quyền thì báo cáo để chủ thể giám sát xem xét nhắc nhở, yêu cầu đối tượng giám sát khắc phục, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm.

2.3. Giám sát theo chuyên đề.

a) Quy trình tiến hành:

* Bước chuẩn bị:

Căn cứ chương trình công tác được xây dựng từ đầu năm, cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT tiến hành giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên. Các công việc trong bước chuẩn bị cần thực hiện như sau:

- Trao đổi với đối tượng giám sát về chủ trương giám sát.

- Ra Quyết định giám sát.

- Xây dựng Kế hoạch giám sát.

- Xây dựng đề cương gợi ý để đối tượng được giám sát báo cáo theo nội dung giám sát.

- Yêu cầu, hướng dẫn đối tượng giám sát chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu liên quan để phục vụ việc giám sát.

* Bước tiến hành:

- Tổ (Đoàn) giám sát tiếp nhận, nghiên cứu báo cáo của đối tượng giám sát (theo đề cương) và các hồ sơ, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát.

- Tổ (Đoàn) giám sát làm việc, trao đổi với đối tượng giám sát, các tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ thêm những vấn đề cần thiết.

- Tổ (Đoàn) giám sát xây dựng dự thảo báo cáo kết quả giám sát.

- Chủ thể giám sát yêu cầu tổ chức đảng được giám sát hoặc tổ chức đảng có đảng viên được giám sát tổ chức cuộc họp:

+ Thành phần: đại diện chủ thể giám sát; Tổ (Đoàn) giám sát; tổ chức đảng được giám sát; đảng viên được giám sát; tổ chức đảng có đảng viên được giám sát (chi ủy hoặc chi bộ); các tổ chức, cá nhân có liên quan (nếu thấy cần thiết - ví dụ).

+ Nội dung: nghe đối tượng giám sát báo cáo; nghe Tổ (Đoàn) giám sát báo cáo; thảo luận; Tổ (Đoàn) giám sát tiếp thu, giải trình những nội dung cần thiết.

- Tổ (Đoàn) giám sát hoàn chỉnh Báo cáo kết quả giám sát, dự thảo Thông báo kết quả giám sát để trình chủ thể giám sát xem xét, quyết định.

* Bước kết thúc:

- Tổ chức đảng ra quyết định giám sát họp xem xét kết quả giám sát:

+ Thành phần: Tổ chức đảng ra Quyết định giám sát, Tổ (Đoàn) giám sát.

+ Nội dung: nghe báo cáo kết quả giám sát của Tổ (Đoàn) giám sát; thảo luận; nhận xét kết quả giám sát.

- Ban hành Thông báo kết quả giám sát (bằng văn bản), thông báo đến đối tượng giám sát và các tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện.

- Nếu thấy đối tượng giám sát có dấu hiệu vi phạm thì chuyển tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định chuyển sang kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiêệu vi phạm.

- Phân công theo dõi thực hiện Thông báo kết quả giám sát.

- Lập và lưu trữ hồ sơ theo quy định.

b) Một số điểm lưu ý về giám sát theo chuyên đề:

- Đối tượng, nội dung giám sát phải được thể hiện rõ trong Chương trình công tác từ đầu năm.

- Giám sát theo chuyên đề được tổ chức thành cuộc; có thành lập Tổ (Đoàn).

- Có thể đồng thời giám sát cả tổ chức đảng và đảng viên trong cùng một cuộc, nhưng việc Thông báo kết quả giám sát phải được thể hiện riêng cho từng đối tượng cụ thể.

- Thời gian giám sát: đối với cấp huyện là 15 ngày làm việc; cấp cơ sở là 10 ngày làm việc.

- Tất cả các cuộc làm việc liên quan đến nội dung giám sát đều phải được lập biên bản đầy đủ, cụ thể.

- Hồ sơ một cuộc giám sát chuyên đề gồm:

+ Quyết định giám sát;

+ Kế hoạch giám sát;

+ Đề cương gợi ý đối tượng giám sát báo cáo (kể cả biểu thống kê số liệu);

+ Báo cáo của đối tượng giám sát;

+ Các hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội dung giám sát;

+ Biên bản các cuộc làm việc, cuộc họp;

+ Báo cáo kết quả giám sát của Tổ (Đoàn) giám sát;

+ Thông báo kết quả giám sát./.

 
 
 
 
Chuyên đề 3
THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐẢNG
VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
------------
Phần thứ nhất
THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐẢNG
A. Kỷ luật đảng viên vi phạm
I. Những văn bản cần nắm vững để thực hiện việc thi hành kỷ luật đối với đảng viên
- Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam;
- Quyết định 46-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương ban hành Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI.
- Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30/3/2013 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm; Hướng dẫn số 09-HD/UBKTTW, ngày 06/6/2013 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thực hiện một số điều của Quy định 181-QĐ/TW, ngày 30/3/2013 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm.
- Nghị định 34/2011/NĐ-CP, ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức.
- Nghị định 66/2011/NĐ-CP, ngày 01/8/2011 của Chính phủ Quy định việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước.
- Quyết định 77/2014/QĐ-UBND, ngày 12/11/2014 của UBND tỉnh quy định tạm thời về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang sinh con vi phạm chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
II. Nguyên tắc xử lý kỷ luật
Điều 35, Điều lệ Đảng quy định: Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh, không có ngoại lệ.
1. Việc thi hành kỷ luật phải căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, quyết định hình thức kỷ luật cho phù hợp theo thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm trước quyết định đó.
2. Trong xử lý, phải kết hợp xem xét kết quả tự phê bình và phê bình với kết quả thẩm tra, xác minh của tổ chức đảng để đảm bảo kết luận khách quan, đầy đủ, chính xác. Cần làm rõ nguyên nhân, phân biệt sai lầm, khuyết điểm của đảng viên do trình độ, năng lực hoặc động cơ vụ lợi mà cố ý vi phạm hay vô ý vi phạm; vi phạm nhất thời hay có hệ thống; đã qua giáo dục, ngăn chặn vẫn làm trái; không tự giác nhận lỗi, không bồi hoàn vật chất hoặc có hành vi đối phó với việc kiểm tra; phân biệt đảng viên khởi xướng, tổ chức, quyết định với đảng viên bị lôi kéo, đồng tình làm sai.
3. Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại. Cấp ủy quản lý đảng viên sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng phải chỉ đạo các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính hoặc đoàn thể được kịp thời.
Quy định 181-QĐ/TW, ngày 30/3/2013 của Bộ Chính trị quy định: trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày đảng viên bị kỷ luật đảng thì phải xem xét, xử lý kỷ luật về chính quyền, đoàn thể (nếu có) theo quy định của cơ quan nhà nước, điều lệ của đoàn thể và ngược lại (nêu ví dụ về việc cơ sở kỷ luật chuyên môn nhưng không kỷ luật về đảng). Việc xử lý kỷ luật về chính quyền, đoàn thể phải nắm vững các quy định của Nhà nước (Trung ương, Tỉnh, ngành) và đoàn thể để áp dụng hình thức phù hợp. (Ví dụ: vi phạm về chính sách dân số - KHHGĐ thì áp dụng Quyết định số 77 của Ủy ban nhân dân tỉnh; cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước thì áp dụng Nghị định 34 của Chính phủ; người đứng đầu các doanh nghiệp Nhà nước thì áp dụng Nghị định 66 của Chính phủ…)
4. Một nội dung vi phạm chỉ bị xử lý kỷ luật một lần bằng hình thức kỷ luật. Trong thời điểm kiểm tra, xem xét xử lý vụ việc, nếu đảng viên có từ hai nội dung vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng nội dung vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật; không tách riêng từng nội dung vi phạm của đảng viên để xử lý kỷ luật nhiều lần với các hình thức kỷ luật khác nhau.
5. Trong cùng một vụ việc có nhiều đảng viên vi phạm thì mỗi đảng viên đều phải bị xử lý kỷ luật về nội dung vi phạm của mình.
6. Đảng ủy cơ sở, chi bộ có thẩm quyền thi hành kỷ luật, khi quyết định kỷ luật oan, sai đối với đảng viên phải chủ động thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định đó; nếu tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật đối với đảng viên mà tổ chức đảng đó có vi phạm trong việc xem xét, xử lý kỷ luật đến mức phải kỷ luật thì cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định.
7. Sau một năm, kể từ ngày có quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (trừ quyết định kỷ luật khai trừ), nếu đảng viên không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực.
8. Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức, bị ốm đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền theo quy định của pháp luật xác nhận thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật. Đảng viên vi phạm đã qua đời, tổ chức đảng xem xét, kết luận, không xử lý kỷ luật; chỉ xử lý kỷ luật khi đảng viên đó vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.
9. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng mức kỷ luật
a. Những trường hợp vi phạm có một hoặc một số tình tiết sau được xem xét giảm mức kỷ luật:
- Chủ động báo cáo vi phạm của mình với tổ chức, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm trước khi bị phát hiện.
- Chủ động báo cáo, cung cấp thông tin, phản ánh đầy đủ, trung thực về những người cùng vi phạm.
- Chủ động chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả vi phạm và tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm; tự giác bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do mình gây ra.
- Vi phạm do nguyên nhân khách quan hoặc do bị ép buộc mà vi phạm.
- Vi phạm do phải thực hiện chủ trương, quyết định, mệnh lệnh sai trái của cấp trên.
b. Những trường hợp vi phạm có một hoặc một số tình tiết sau phải xem xét tăng nặng mức kỷ luật:
- Đã được tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giáo dục, nhắc nhở mà không sửa chữa.
- Không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm của mình mà còn quanh co, che giấu.
- Bao che cho người cùng vi phạm; trù dập, trả thù người đấu tranh, tố cáo vi phạm hoặc người cung cấp chứng cứ vi phạm.
- Cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật; ngăn cản người khác cung cấp chứng cứ vi phạm; tiêu hủy chứng cứ, lập hồ sơ, chứng cứ giả.
- Đối phó, cản trở, gây khó khăn, trở ngại cho quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ vi phạm.
- Vi phạm do lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, thực hiện chính sách xã hội.
- Vi phạm gây thiệt hại về vật chất phải bồi hoàn nhưng không bồi hoàn, không khắc phục hậu quả.
- Vi phạm nhiều lần, có hệ thống, tái phạm; bị xử lý kỷ luật nhiều lần.
- Vi phạm có tổ chức; là người tổ chức, chủ mưu, khởi xướng hành vi vi phạm.
- Ép buộc, vận động, tổ chức, tiếp tay cho người khác cùng vi phạm.
- Ép buộc, tạo điều kiện cho người khác tạo tài liệu, hồ sơ, chứng cứ giả, che giấu, tiêu hủy chứng cứ, hồ sơ, tài liệu.
III.  Hình thức kỷ luật
1. Đối với đảng viên chính thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ.
Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải kỷ luật khai trừ, không áp dụng biện pháp xóa tên, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Cấp ủy viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách chức, không để thôi giữ chức.
2. Đối với đảng viên dự bị: khiển trách, cảnh cáo.
Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xóa tên trong danh sách đảng viên, không kỷ luật khai trừ.
IV. Thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm
Điều 36, Điều lệ Đảng quy định: Chỉ có các tổ chức đảng do Điều lệ Đảng quy định mới có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm.
1. Chi bộ có thẩm quyền
- Quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao). Nhiệm vụ do cấp trên giao là công việc do tổ chức đảng cấp trên hoặc lãnh đạo cấp trên có thẩm quyền giao cho đảng viên.
Nếu phải xử lý kỷ luật cao hơn, chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét quyết định.
Đối với các cấp ủy viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ, từ cấp ủy viên đảng ủy cơ sở cho đến ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý, nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao (nhiệm vụ do cấp ủy giao hoặc nhiệm vụ chuyên môn được giao) phải áp dụng hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên thì chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo của chi bộ đối với cấp ủy viên các cấp, cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý phải báo cáo lên các cấp ủy mà đảng viên đó là thành viên và cấp ủy, ủy ban kiểm tra của cấp ủy quản lý cán bộ đó.
Việc cách chức, khai trừ cấp ủy viên của chi bộ cơ sở do chi bộ cơ sở đề nghị, ban thường vụ cấp ủy huyện, quận hoặc tương đương quyết định.
2. Đảng ủy cơ sở có thẩm quyền
- Quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp ủy viên cấp dưới.
Quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên của chi bộ nhưng không phải là cấp ủy viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý.
Đối với cấp ủy viên cấp trên trực tiếp trở lên và cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý sinh hoạt tại đảng bộ, nếu vi phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao đến mức phải kỷ luật thì đảng ủy cơ sở đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Đảng ủy bộ phận và ban thường vụ đảng ủy cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên, nhưng có trách nhiệm thẩm tra việc đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ. Ban thường vụ đảng ủy cơ sở có trách nhiệm thẩm tra đề nghị của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở để đề nghị đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định theo thẩm quyền.
- Trường hợp tất cả cấp ủy viên của chi bộ và của đảng bộ cơ sở đều bị thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì báo cáo để tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên quyết định.
* Một số điểm cần lưu ý khi xử lý kỷ luật
Chi bộ và đảng ủy cơ sở có thẩm quyền quyết định thi hành kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng; nếu không thuộc thẩm quyền của chi bộ và đảng ủy thì đề nghị tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Trường hợp tổ chức đảng chi bộ và đảng ủy cơ sở không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó.
+ Khi Đảng ủy cơ sở phát hiện các trường hợp vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng chi bộ không xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì đảng ủy cơ sở quyết định xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên.
+ Đối với chi bộ có trách nhiệm xem xét, xử lý, nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đảng viên vi phạm thì phải xem xét trách nhiệm của chi bộ và nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải xử lý đúng mức.
V. Quy trình, thủ tục, hồ sơ thi hành kỷ luật đảng viên
1. Quy trình xử lý kỷ luật
Theo quy định tại Điều 39, Điều lệ Đảng thì quy trình xử lý kỷ luật gồm các bước sau đây:
1.1. Đảng viên vi phạm vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, đảng ủy cơ sở trực tiếp xem xét kỷ luật.
Đảng ủy hoặc chi bộ có trách nhiệm hướng dẫn đảng viên vi phạm kỷ luật chuẩn bị bản tự kiểm điểm. Trong bản tự kiểm điểm có nhận hình thức kỷ luật nếu đến mức phải xử lý kỷ luật.
1.2- Hội nghị chi bộ thảo luận, góp ý và kết luận rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm. Đại diện Đảng ủy cơ sở tham dự hội nghị chi bộ xem xét kỷ luật đảng viên là cấp ủy viên hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý. Trường hợp có đầy đủ bằng chứng, nếu đảng viên vi phạm từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam thi tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật.
1.3. Sau khi thảo luận chi bộ tiến hành biểu quyết (đề nghị hoặc quyết định) kỷ luật. Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải bằng phiếu kín. Sau khi xem xét, kết luận, chi bộ biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỉ luật. Nếu kết quả biểu quyết không kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên. Trường hợp kết quả biểu quyết đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể. Trường hợp biểu quyết không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định thì báo cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh.
Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đảng đó.
Một nửa hay hai phần ba quy định ở trên được tính trên tổng số thành viên có thẩm quyền biểu quyết của tổ chức đảng (ở chi bộ là đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp; ở cấp ủy là tổng số cấp ủy viên), không tính trên số thành viên có mặt trong cuộc họp.
1.4. Nếu việc thi hành kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ thì quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên của chi bộ có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày, chi ủy làm văn bản báo cáo cấp trên và lưu hồ sơ. Văn bản của chi bộ (trong đảng bộ bộ phận, trong đảng bộ cơ sở) được đóng dấu của đảng ủy cơ sở vào phía trên, góc trái. Đảng ủy cơ sở hoặc cấp ủy cấp trên trực tiếp không phải ra quyết định chuẩn y.
Trường hợp chi bộ chỉ có bí thư chi bộ, nếu bí thư chi bộ bị xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ thì bí thư chi bộ báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp để cử đại diện chủ trì hội nghị xem xét, kỷ luật. Sau khi biểu quyết quyết định kỷ luật, chậm nhất 5 ngày, chi bộ báo cáo kết quả để tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên ra quyết định kỷ luật.
1.5. Nếu việc thi hành kỷ luật thuộc thẩm quyền của cấp trên thì chi bộ lập hồ sơ báo cáo tổ chức đảng cấp trên xem xét, quyết định.
1.6. Đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền đảng ủy cơ sở xử lý kỷ luật thì trước khi quyết định kỷ luật, đại diện đảng ủy nghe đảng viên vi phạm trình bày ý kiến và ý kiến này được báo cáo đầy đủ (kèm theo bản tự kiểm điểm) khi đảng ủy cơ sở họp xem xét, quyết định kỷ luật.
+ Trình bày ý kiến với tổ chức đảng có thẩm quyền trước khi kỷ luật là quyền và trách nhiệm của đảng viên. Nếu đảng viên vi phạm vì một lý do nào đó mà không trực tiếp trình bày ý kiến với đảng ủy cơ sở khi được yêu cầu thì báo cáo với đảng ủy cơ sở bằng văn bản và phải nghiêm chỉnh chấp hành sau khi có quyết định kỷ luật.
1.7. Đảng ủy cơ sở sau khi ký quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật phải kịp thời công bố, chậm nhất không qua 15 ngày kể từ ngày ký. Đảng ủy ký quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật trực tiếp công bố quyết định.
1.8. Việc công bố quyết định kỷ luật phải có đại diện đảng ủy cơ sở, việc công bố quyết định kỷ luật phải được lập biên bản lưu hồ sơ. Trường hợp đảng viên bị kỷ luật từ chối nghe công bố hoặc không nhận quyết định kỷ luật thì ghi vào biên bản, quyết định kỷ luật vẫn được công bố và có hiệu lực thi hành ngay.
2. Thủ tục, hồ sơ xử lý kỷ luật
2.1. Đối với đảng viên
- Làm bản tự kiểm điểm, nêu rõ lỗi phạm của cá nhân vi phạm trong hoàn cảnh nào do cố ý hay vô ý, vi phạm lần đầu hay tái phạm, mức độ ảnh hưởng và thiệt hại về vật chất, tinh thần của vi phạm do bản thân gây ra và tự nhận hình thức kỷ luật.
2.2. Đối với chi bộ
- Biên bản họp chi bộ.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết hình thưc kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật.
- Báo cáo kết quả thi hành kỷ luật (nếu thuộc thẩm quyền kỷ luật của chi bộ).
- Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật (nếu thuộc thẩm quyền của cấp trên).
2.3. Đối với Ủy ban Kiểm tra cơ sở (áp dụng khi việc thi hành kỷ luật thuộc thẩm quyền của tổ chức đảng cấp trên)
- Biên bản họp UBKT.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết hình thưc kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật.
- Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật.
- Biên bản làm việc với đảng viên vi phạm.
2.4. Đối với Đảng ủy cơ sở
- Toàn bộ hồ sơ đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ và UBKT.
- Biên bản họp đảng ủy.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết hình thưc kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật.
- Quyết định của đảng ủy cơ sở về việc thi hành kỷ luật.
- Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật (nếu thuộc thẩm quyền của cấp trên).
B. Kỷ luật tổ chức đảng vi phạm
I. Những văn bản cần nắm vững để thực hiện việc thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng.
- Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam.
- Quyết định 46-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương ban hành Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI.
- Quy định số 263-QĐ/TW, ngày 08/10/2014 của Bộ Chính trị quy định xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm.
- Hướng dẫn số 17-HD/UBKTTW, ngày 16/3/2015 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy định số 263-QĐ/TW, ngày 08/10/2014 của Bộ Chính trị quy định xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm.
II. Nguyên tắc xử lý kỷ luật
1. Tổ chức đảng vi phạm bị xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của đảng ủy cơ sở gồm: chi ủy, chi bộ, đảng ủy bộ phận; đảng bộ bộ phận, ủy ban kiểm tra cơ sở.
Việc xem xét, xử lý kỷ luật tổ chức đảng phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng loại tổ chức đảng và nội dung vi phạm, bảo đảm công khai, chính xác.
2. Trường hợp tổ chức đảng vi phạm những nội dung chưa nêu trong các quy định của Trung ương và của Tỉnh thì căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và vận dụng các quy định của Trung ương và của tỉnh để xử lý kỷ luật cho phù hợp.
3. Ở cơ sở, chỉ có đảng ủy cơ sở mới có thẩm quyền thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng vi phạm kỷ luật. Kỷ luật giải tán một chi bộ do đảng ủy cơ sở đề nghị và ban thường vụ cấp huyện quyết định. Quyết định này phải báo cáo lên Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Ban thường vụ và ủy ban kiểm tra cơ sở không có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất ý kiến với cấp ủy trong việc quyết định xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm. Tổ chức đảng vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật và báo cáo cấp ủy có thẩm quyền xem xét, quyết định.
4. Các tổ chức đảng đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng; tổ chức đảng ở bất cứ cấp nào, lĩnh vực công tác nào, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật thì phải được xem xét, xử lý kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời để giáo dục và răn đe.
5. Việc thi hành kỷ luật tổ chức đảng vi phạm, thực hiện đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, quy trình, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng.
6. Việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm phải được các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thận trọng, đúng quy định của Đảng; Khi xem xét, quyết định hình thức kỷ luật tổ chức đảng vi phạm, phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, thái độ tiếp thu phê bình và sửa chữa, khắc phục; mục tiêu, yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.
7. Một nội dung vi phạm chỉ bị xử lý kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trong thời điểm kiểm tra, xem xét xử lý vụ việc, nếu tổ chức đảng có từ hai nội dung vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng nội dung vi phạm và quyết định chung bằng hình thức kỷ luật; không tách riêng từng nội dung vi phạm để áp dụng các hình thức kỷ luật khác nhau.
8. Kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét và quy rõ trách nhiệm của tổ chức đảng đó. Đồng thời, xem xét trách nhiệm các cá nhân để xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm có liên quan đến vi phạm của tổ chức đảng.
Tổ chức đảng bị kỷ luật thì tất cả thành viên trong tổ chức đảng đều phải chịu trách nhiệm. Nội dung, hình thức kỷ luật của tổ chức đảng bị kỷ luật phải được ghi vào lý lịch đảng viên là thành viên của tổ chức đảng. Những thành viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến quyết định sai lầm của tổ chức đảng, được ghi rõ vào lý lịch đảng viên, được bảo lưu ý kiến.
9. Trong trường hợp nếu tổ chức đảng bị kỷ luật oan, sai thì đảng ủy ra quyết định kỷ luật phải chủ động hủy bỏ hoặc thay đổi quyết định kỷ luật; nếu không hủy bỏ hoặc thay đổi thì tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định và xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đã ra quyết định đó.
10. Quyết định kỷ luật tổ chức đảng vi phạm có hiệu lực ngay sau khi công bố. Quyết định kỷ luật tổ chức đảng vi phạm phải báo cáo lên cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp và thông báo đến cấp dưới, nơi có tổ chức đảng vi phạm. Trường hợp cần thông báo rộng hơn, thì đảng ủy cơ sở quyết định.
11. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng mức kỷ luật
a. Những tình tiết giảm nhẹ mức kỷ luật
- Chủ động báo cáo vi phạm của tổ chức mình với tổ chức đảng cấp trên, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm trước khi bị phát hiện.
- Chủ động cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ phản ánh đầy đủ, trung thực về những vi phạm.
- Chủ động chấm dứt; khắc phục hậu quả do tổ chức mình gây ra.
b. Những tình tiết tăng nặng mức kỷ luật:
- Đã được tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền phê bình, nhắc nhở, cảnh báo.
- Không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm, quanh co, che giấu vi phạm.
- Trù dập, trả thù người đấu tranh, tố cáo vi phạm hoặc người cung cấp chứng cứ vi phạm.
- Cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật; ngăn cản người khác cung cấp chứng cứ vi phạm; tiêu hủy chứng cứ; lập hồ sơ, chứng cứ giả.
- Đối phó, cản trở, gây khó khăn, trở ngại cho quá trình xác minh, thu thập  chứng cứ vi phạm.
- Lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, chính sách xã hội để vi phạm.
- Gây thiệt hại về vật chất mà không khắc phục hậu quả.
- Vi phạm nhiều nội dung; vi phạm nhiều lần, có hệ thống, tái phạm; đã bị xử lý kỷ luật nhiều lần.
- Ép buộc, tạo điều kiện cho người khác tạo tài liệu, hồ sơ, chứng cứ giả, che giấu, tiêu hủy chứng cứ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến vi phạm của tổ chức đảng.
- Cố tình dây dưa, kéo dài thời gian xem xét xử lý, khắc phục, làm cho tình hình đơn vị, địa phương ngày càng phức tạp hơn.
III. Hình thức kỷ luật đối với tổ chức đảng vi phạm gồm: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.
Theo Khoản 3, Điều 36, Quyết định 46-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương ban hành Hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Chương VII, Chương VIII, Điều lệ Đảng (khóa XI) thì áp dụng hình thức giải tán đối với chi bộ khi vi phạm một trong các nội dung sau đây:
+ Có hành động chống đối quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng với các hành vi cụ thể như: tổ chức, kích động, xúi giục, cưỡng bức quần chúng mít tinh, biểu tình trái với quy định của pháp luật; xuyên tạc sự thật, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; có hành động cụ thể chống Đảng.
+ Vi phạm đặc biệt nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng hoặc pháp luật Nhà nước với các hành vi như: bỏ ba kỳ liên tiếp không sinh hoạt; cố ý không chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, chủ trương, chính sách, các nguyên tắc, quy chế, quy định, quyết định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; chia rẽ bè phái, mất đoàn kết nghiêm trọng, không còn vai trò và tác dụng lãnh đạo đối với địa phương, đơn vị.
IV. Thẩm quyền thi hành kỷ luật
Ở cơ sở chỉ có ban chấp hành đảng bộ cơ sở (gọi tắt là đảng ủy) mới có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng.
Ban thường vụ đảng ủy cơ sở và ủy ban kiểm tra cơ sở không có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng.
V. Quy trình, thủ tục, hồ sơ thi hành kỷ luật tổ chức đảng
1. Quy trình xử lý kỷ luật
Theo quy định tại Điều 39, Điều lệ Đảng thì quy trình xử lý kỷ luật tổ chức đảng gồm các bước sau đây:
1.1. Tổ chức đảng vi phạm thì lãnh đạo, người đứng đầu tổ chức đảng vi phạm chuẩn bị nội dung kiểm điểm, báo cáo trước hội nghị tổ chức đảng để kiểm điểm làm rõ dúng sai, nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân của vi phạm; tổ chức đảng tự nhận hình thức kỷ luật và biểu quyết hình thức kỷ luật của tổ chức đảng, của từng thành viên có liên quan và báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Hội nghị này có đại diện tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền dự.
Trường hợp có đầy đủ cơ sở, bằng chứng, nếu tổ chức đảng vi phạm từ chối kiểm điểm hoặc đa số thành viên của tổ chức đảng vi phạm đang bị tạm giam hoặc đại diện tổ chức đảng cố tình không có mặt thì tổ chức đảng có thẩm quyền vẫn tiến hành xem xét, xử lý kỷ luật.
Tổ chức đảng vi phạm ngoài với việc kiểm điểm ở tổ chức đảng đó còn phải kiểm điểm ở những tổ chức đảng nào nữa thì do tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định.
1.2. Hội nghị tổ chức đảng vi phạm thảo luận, góp ý và kết luận rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm.
Sau khi thảo luận tổ chức đảng tiến hành biểu quyết đề nghị kỷ luật. Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật phải bằng phiếu kín theo hai bước.
- Bước 1: bỏ phiếu việc có kỷ luật hay không kỉ luật. Nếu kết quả biểu quyết không kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên.
- Bước 2: Trường hợp kết quả biểu quyết đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể. Trường hợp biểu quyết không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định thì báo cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh.
Quyết định đề nghị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đảng đó.
Một nửa quy định ở trên được tính trên tổng số thành viên có thẩm quyền biểu quyết của tổ chức đảng (ở chi bộ là đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp; ở cấp ủy là tổng số cấp ủy viên), không tính trên số thành viên có mặt trong cuộc họp.
1.3. Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền nghe đại diện tổ chức đảng vi phạm trình bày ý kiến và ý kiến này được báo cáo đầy đủ cùng với bản tự kiểm điểm của tổ chức đảng vi phạm khi tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền họp để xem xét, quyết định kỷ luật.
Trường hợp đại diện tổ chức đảng vi phạm vì lý do nào đó mà không đến được thì phải có báo cáo bằng văn bản để lưu vào hồ sơ kỷ luật. Sau khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền thông báo quyết định kỷ luật bằng văn bản cho tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật để chấp hành.
1.4. Đảng ủy cơ sở sau khi ký quyết định kỷ luật phải kịp thời công bố, chậm nhất không qua 15 ngày kể từ ngày ký. Đảng ủy ký quyết định kỷ luật trực tiếp công bố quyết định.
1.5. Việc công bố quyết định kỷ luật phải có đại diện đảng ủy cơ sở và phải được lập biên bản lưu hồ sơ.
2. Thủ tục, hồ sơ xử lý kỷ luật
2.1. Đối với tổ chức đảng vi phạm
Lãnh đạo, người đứng đầu tổ chức đảng vi phạm chuẩn bị nội dung kiểm điểm, báo cáo trước hội nghị tổ chức đảng để kiểm điểm làm rõ dúng sai, nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân của vi phạm; tổ chức đảng tự nhận hình thức kỷ luật.
- Biên bản họp tổ chức đảng.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật.
- Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật.
2.2. Đối với Ủy ban Kiểm tra cơ sở
- Biên bản họp UBKT.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật.
- Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật.
2.3. Đối với Đảng ủy cơ sở
- Toàn bộ hồ sơ đề nghị thi hành kỷ luật của tổ chức đảng và UBKT.
- Biên bản làm việc với tổ chức đảng vi phạm.
- Biên bản họp đảng ủy.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết kỷ luật hoặc không kỷ luật.
- Biên bản kiểm phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật.
- Phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật.
- Quyết định của đảng ủy cơ sở về việc thi hành kỷ luật.
Phần thứ hai
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI KỶ LUẬT Ở CẤP CƠ SỞ
1. Nguyên tắc trong việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại
- Đảng ủy cơ sở có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng.
Trong Điều lệ Đảng và các hướng dẫn của Trung ương quy định cấp ủy, ban thường vụ, ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện việc giải quyết khiếu nại kỷ luật, nhưng ở cơ sở thì chỉ có đảng ủy mới có thẩm quyền giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với những trường hợp kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ vì ban thường vụ đảng ủy và ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở không có thẩm quyền thi hành kỷ luật hoặc thay đổi hình thức kỷ luật do chi bộ quyết định.
Nhưng ủy ban kiểm tra cơ sở có trách nhiệm giúp cấp ủy thực hiện quy trình giải quyết khiếu nại kỷ luật (gồm tiếp nhận đơn thư, nghiên cứu hồ sơ, đề xuất ý kiến, tham mưu Đảng ủy thành lập Tổ kiểm tra…).
- Đảng ủy, ủy ban kiểm tra cơ sở khi nhận được khiếu nại kỷ luật phải báo cho đối tượng khiếu nại biết. Chậm nhất là 90 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại (gửi trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện chuyển đến) phải xem xét, giải quyết, trả lời cho đối tượng khiếu nại. Nghiêm cấm các hành vi cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng. Trường hợp hết thời hạn mà chưa giải quyết xong thì phải thông báo cho đối tượng khiếu nại biết.
2. Phạm vi giải quyết khiếu nại
- Chỉ giải quyết những nội dung quyết định kỷ luật đảng mà đối tượng bị kỷ luật có khiếu nại.
- Đảng ủy cơ sở chỉ giải quyết khiếu nại kỷ luật những trường hợp do chi bộ quyết định kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo).
- ủy ban kiểm tra cơ sở giúp cấp ủy giải quyết thư khiếu nại về kỷ luật đảng thuộc phạm vi trách nhiệm của đảng ủy (các hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo do chi bộ quyết định), trước hết phải giải quyết những trường hợp có liên quan đến nhân sự cấp ủy, chính quyền, đoàn thể.
Lưu ý: Trường hợp người bị thi hành kỷ luật có khiếu nại chưa được giải quyết mà đã qua đời thì tổ chức đảng vẫn phải xem xét, giải quyết; nếu thân nhân (cha, mẹ, vợ, hoặc chồng, con) có đề nghị cho biết kết quả thì thông báo tóm tắt kết quả giải quyết khiếu nại cho chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt và thân nhân của người đó biết.
3. Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây
- Đã quá thời hạn một tháng theo quy định của Điều lệ Đảng (một tháng ở đây được hiểu là 30 ngày làm việc);
- Đã hoặc đang được cấp trên có thẩm quyền giải quyết;
- Đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luận, nay khiếu nại tiếp, nhưng người khiếu nại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để làm rõ sự việc;
- Bị toà án quyết định hình phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên chưa được toà án có thẩm quyền quyết định hủy bỏ bản án (vì theo quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của Trung ương thì những trường hợp này bị kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng);
- Cá nhân, tập thể và tổ chức đảng khiếu nại hộ cho đảng viên bị thi hành kỷ luật; khiếu nại khi chưa có quyết định kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm quyền.
4. Trình tự các bước tiến hành
- Sau khi nhận được thư khiếu nại của đảng viên, ủy ban kiểm tra tham mưu đảng ủy phân công cán bộ nghiên cứu thư khiếu nại;
- Bố trí gặp người khiếu nại (bố trí 2 người trở lên); nghiên cứu hồ sơ kỷ luật, tóm tắt nội dung khiếu nại;
- Ủy ban Kiểm tra báo cáo đề xuất với đảng ủy về nội dung khiếu nại, kế hoạch giải quyết, dự kiến thành viên tổ kiểm tra.
- Đảng ủy quyết định thành lập tổ kiểm tra; tổ kiểm tra xây dựng lịch trình, phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong tổ.
- Tổ kiểm tra làm việc với người khiếu nại, đại diện chi bộ nơi quyết định kỷ luật, làm rõ những điểm khác nhau giữa nội dung khiếu nại kỷ luật với quyết định kỷ luật.
- Thu thập, nghiên cứu tài liệu, văn bản có liên quan đến vi phạm của đảng viên để xác định rõ thêm lỗi phạm của đảng viên làm căn cứ đối chiếu với hình thức kỷ luật đã xử lý.
- Tổ kiểm tra báo cáo với đảng ủy về kết quả thẩm tra, xác minh để đảng ủy cho ý kiến.
- Tổ kiểm tra trao đối với người khiếu nại, tiếp tục thẩm tra, xác minh những nội dung chưa rõ hoặc chưa thống nhất; chuẩn bị báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại.
- Tổ kiểm tra báo cáo với đảng ủy về toàn bộ hồ sơ, ý kiến của người khiếu nại, ý kiến và đề nghị của tổ chức đảng cấp dưới trong đó bao gồm cả nội dung về tư cách, phẩm chất của người khiếu nại kể từ sau khi bị xử lý kỷ luật.
- Đảng ủy thảo luận, kết luận và quyết định giải quyết khiếu nại (giữ nguyên, thay đổi hoặc tăng nặng hình thức kỷ luật).
- Lập và lưu trữ hồ sơ.
5. Hồ sơ một vụ giải quyết khiếu nại bao gồm:
- Đơn khiếu nại;
- Biên bản làm việc với người khiếu nại;
-  Quyết định thành lập tổ kiểm tra, kế hoạch giải quyết khiếu nại, lịch trình giải quyết khiếu nại;
- Các biên bản thẩm tra, xác minh, các tài liệu, chứng cứ liên quan (kể cả các biên bản thẩm tra, xác minh bổ sung nếu có);
- Báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại của tổ kiểm tra;
- Thông báo kết luận giải quyết khiếu nại của đảng ủy.
- Các biên bản họp đảng ủy, biên bản kiểm phiếu, phiếu.
 
 
 
 
Chuyên đề 4
GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG ĐẢNG
--------------
I. Một số khái niệm cơ bản
1. Khái niệm tố cáo
- Theo từ điển Tiếng Việt: "Tố cáo là "báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó" hoặc "tố cáo là vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn".
- Theo Luật tố cáo: "Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức".
- Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là vi phạm Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng và pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân.
2. Khái niệm giải quyết tố cáo
- Giải quyết tố cáo là việc tiến hành kiểm tra để làm rõ đúng, sai đối với những nội dung tố cáo để kết luận và xử lý phù hợp.
- Giải quyết tố cáo trong Đảng là việc chủ thể kiểm tra tiến hành kiểm tra, làm rõ đúng, sai về những nội dung tố cáo đối với tổ chức đảng hoặc đảng viên để xem xét, kết luận và xử lý theo quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Giải quyết tố cáo là trách nhiệm của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ; là nhiệm vụ trực tiếp và thường xuyên của uỷ ban kiểm tra các cấp được quy định tại Điều 32 Điều lệ Đảng và là trách nhiệm của các tổ chức đảng khác có liên quan.
II. Ý nghĩa, tác dụng của việc tố cáo và giải quyết tố cáo
1. Bảo đảm quyền dân chủ của công dân đã được pháp luật qui định (Hiến pháp xác định tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân).
Khi tố cáo, công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật khác và các quy định của Đảng.
2. Bảo đảm quyền dân chủ của đảng viên đã được qui định trong Điều lệ Đảng và nguyên tắc tổ chức sinh hoạt trong nội bộ Đảng.
Theo quy định của Điều lệ Đảng, đảng viên có quyền phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.
3. Là một trong những nguồn thông tin để tổ chức đảng, đảng viên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình, sửa chữa, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm trong công tác.
 
Trong mối quan hệ với nhân dân, Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ, chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Do vậy, việc đảng viên và quần chúng phản ảnh sai lầm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên là cung cấp nguồn thông tin cần thiết để tổ chức đảng có thẩm quyền có điều kiện xem xét, hiểu rõ hơn ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm của tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý.
4. Thực hiện tốt việc giải quyết tố cáo là thể hiện sự tiếp thu nghiêm túc ý kiến góp ý phê bình, báo cáo, kiến nghị đúng đắn của đảng viên và quần chúng, không những giúp cho tổ chức đảng hoặc đảng viên bị tố cáo nhận rõ sai lầm, khuyết điểm (nếu có) để sửa chữa, tiến bộ; cải chính, minh oan, bảo vệ cán bộ, đảng viên trong trường hợp bị tố cáo sai, bị vu cáo; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
5. Qua giải quyết tố cáo, các tổ chức đảng giải quyết tố cáo quyết định, chỉ đạo hoặc kiến nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định các biện pháp chấn chỉnh, khắc phục hoặc xử lý phù hợp để xây dựng tổ chức đảng vững mạnh hơn.
Kịp thời đề xuất các cấp có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định, chế độ, chính sách không còn phù hợp, ban hành mới những quy định còn thiếu để tổ chức đảng, đảng viên có căn cứ, cơ sở, điều kiện chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.
6. Góp phần tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng và củng cố mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, của đảng viên trong công tác xây dựng Đảng, tăng cường tính chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân.
III. Nguyên tắc giải quyết tố cáo
1. Tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo bao gồm cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp, có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp uỷ cấp mình.
2. Khi nhận được tố cáo phải phân loại (theo nội dung, đối tượng,…), phân công giải quyết và giải quyết các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm của mình hoặc phối hợp với các tổ chức đảng có thẩm quyền để giải quyết.
3. Chậm nhất là 90 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo (gửi, phản ánh trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện chuyển đến) phải xem xét, giải quyết. Trường hợp hết thời hạn mà chưa giải quyết xong thì phải thông báo cho người tố cáo biết.
4. Tổ chức đảng và đảng viên nhận được thư tố cáo phải bảo đảm bí mật cho người tố cáo. Không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố cáo. Uỷ ban kiểm tra hoặc cấp giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp uỷ xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm minh bằng kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính hoặc pháp luật những trường hợp trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết tố cáo; bao che cho những việc làm sai trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ nội dung tố cáo, tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo, người không có trách nhiệm biết; lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác.
IV. Những đơn thư không xem xét giải quyết
1.  Những đơn thư tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ (những trường hợp này nếu có nội dung cụ thể, tố cáo đối tượng cụ thể, qua thẩm tra, xác minh nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì chuyển sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm);
2. Những tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền do Điều lệ Đảng quy định xem xét, kết luận, nay tố cáo lại, nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ việc;
3. Những tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra, xác minh;
4. Những đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên;
5. Những tố cáo sao chụp chữ ký mà không ký trực tiếp.
6. Đơn tố cáo của người không có năng lực hành vi dân sự.
V. Thẩm quyền giải quyết tố cáo
Ở cơ sở, tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý, bao gồm:
- Ban Chấp hành đảng bộ (đảng uỷ);
- Ban thường vụ đảng uỷ;
- Uỷ ban kiểm tra;
- Ban chấp hành chi bộ (chi ủy);
VI. Trình tự các bước giải quyết tố cáo
1. Sau khi phân loại đơn thư, UBKT (đối với đảng bộ) hoặc Chi uỷ (đối với chi bộ) nghiên cứu thư tố cáo, gặp người tố cáo (phải bố trí 2 người trở lên) để nắm thêm thông tin bổ sung, lập biên bản xác định nội dung tố cáo và yêu cầu người tố cáo ký vào biên bản làm việc.
2. Tóm tắt nội dung tố cáo để báo cáo với UBKT hoặc chi uỷ quyết định thành lập Tổ giải quyết tố cáo (gọi là Tổ kiểm tra) và kế hoạch giải quyết tố cáo.
3. Tổ kiểm tra trao đổi với đại diện tổ chức đảng (chi bộ, tổ đảng) có đảng viên bị tố cáo về nội dung tố cáo; xây dựng lịch trình, phân công nhiệm vụ cho thành viên tổ kiểm tra; gợi ý nội dung để đảng viên bị tố cáo làm bản giải trình và cung cấp tài liệu có liên quan.             
4. Tổ kiểm tra tiến hành gặp các tổ chức, cá nhân có liên quan để thẩm tra, xác minh.
5. Sau khi thẩm tra, xác minh thấy có sai phạm thì gặp đảng viên bị tố cáo để trao đổi những vấn đề cần bổ sung làm rõ, nếu sai phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì báo cáo UBKT hoặc chi uỷ cho kết hợp làm quy trình xem xét, xử lý kỷ luật (gọi là quy trình kép).
6. Tổ chức hội nghị chi bộ:
- Nội dung: nghe đảng viên bị tố cáo trình bày bản giải trình và tự kiểm điểm; Tổ kiểm tra thông báo dự thảo kết quả thẩm tra, xác minh bằng văn bản; hội nghị thảo luận, đóng góp ý kiến; bỏ phiếu đề nghị hoặc quyết định hình thức kỷ luật (nếu có).
- Thành phần dự hội nghị: toàn thể đảng viên của chi bộ, đại diện UBKT và tổ chức đảng cấp trên, đại diện tổ chức Đoàn (nếu người bị tố cáo là cán bộ đoàn).
7. Tổ kiểm tra tiếp tục thẩm tra, xác minh những nội dung chưa rõ hoặc chưa thống nhất tại hội nghị chi bộ; hoàn chỉnh báo cáo kết quả giải quyết tố cáo, trao đổi với đảng viên bị tố cáo và tổ chức đảng có liên quan về kết quả giải quyết tố cáo.
8. Tổ kiểm tra báo cáo UBKT hoặc chi uỷ để kết luận. Trường hợp nếu có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì đại diện UBKT hoặc chi uỷ gặp đảng viên bị tố cáo để nghe trình bày ý kiến trước khi trình đảng uỷ hoặc chi bộ xem xét quyết định.
9. Hoàn chỉnh hồ sơ đưa vào lưu trữ. Hồ sơ một vụ giải quyết tố cáo gồm có:
- Đơn tố cáo;
- Biên bản làm việc với người tố cáo;
- Quyết định thành lập tổ kiểm tra, kế hoạch giải quyết tố cáo, lịch trình giải quyết tố cáo;
- Biên bản làm việc với đảng viên bị tố cáo;
- Đề cương hướng dẫn làm bản giải trình, bản giải trình của đảng viên bị tố cáo, bản tự kiểm điểm của đảng viên bị tố cáo (nếu có);
- Các biên bản thẩm tra, xác minh, các tài liệu, chứng cứ liên quan (kể cả các biên bản thẩm tra, xác minh bổ sung);
- Báo cáo kết quả giải quyết tố cáo của tổ kiểm tra;
- Thông báo kết luận giải quyết tố cáo của UBKT hoặc cấp uỷ,;
- Biên bản họp chi bộ, phiếu đề nghị hoặc quyết định thi hành kỷ luật và biên bản kiểm phiếu (nếu có).
 
 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 66 trong 18 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hình ảnh Hoạt động

  • trao nha tinh thuong tai cam  vinh
  • trao nha tinh nghia tai thach huong
  • sếp kỳ chúc mừng điện lực
  • chúc mừng ngày doanh nhân
  • Bảo việt
  • Bí thư đảng ủytraao hoa và cờ lưu niệm
  • df
  • đại hội bưu điện tỉnh

Thông tin cần biết

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm đến mục nào nhất trên dangbokhoidoanhnghiephatinh.org.vn?

Công tác xây dựng Đảng.

Sinh hoạt Đảng.

Điều lệ Đảng.

Tư liệu về Đảng.

Hoạt động Đoàn thể.

Ý kiến khác.